Nguồn gốc của bánh chưng gắn liền với truyền thuyết thời vua Hùng thứ sáu.
Theo truyền thuyết, sau khi đánh giặc Ân, Vua Hùng thứ 6 ra lệnh cho các người con dâng lễ vật lên vua, lễ vật nào đặc biệt ý nghĩa, vua sẽ truyền ngôi lại cho người đó.
Các người con của vua đều tìm những của ngon, vật lạ dâng lên vua cha chỉ trừ người con thứ 18 của Vua Hùng là Lang Liêu tính tình thuần hậu, chí hiếu, song vì mẹ mất sớm, cũng như tài sản không giàu có như những người anh, Lang Liêu hổ thẹn chẳng có gì để dâng lên cho vua.
Lúc này trong cơn mê ngủ, Lang Liêu nằm mơ thấy vị thần mách bảo: "Vật trong trời đất không có gì quí bằng gạo, là thức ăn nuôi sống người. Nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng trưng Trời Đất. Lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột để tượng hình cha mẹ sinh thành”.
Lang Liêu tỉnh dậy và thực hiện theo để dâng lên Vua Hùng. Vua ăn thấy ngon và hỏi về ý nghĩa của bánh, sau khi nghe về câu chuyện do người con kể lại, vua xúc động và đặt tên bánh là "Bánh chưng" với hình vuông tượng trưng cho Đất, "Bánh giầy" với hình tròn tượng trưng cho trời.
Và như thế cứ đến ngày Tết, vua lệnh cho dân chúng làm hai loại bánh này để dâng lên tổ tiên cầu mong tổ tiên phù hộ mang đến vụ mùa thuận lợi cho một năm mới.
Bánh chưng có hình vuông, tượng trưng cho mặt đất, thể hiện quan niệm vũ trụ của người Việt cổ với trời tròn – đất vuông. Những nguyên liệu mộc mạc được gói ghém cẩn thận trong lớp lá dong xanh không chỉ phản ánh đời sống lao động giản dị mà còn cho thấy sự gắn bó hài hòa giữa con người và thiên nhiên.
Từ đó, bánh chưng không chỉ là một món ăn mà còn là kết tinh của tư duy, tín ngưỡng và triết lý sống của người Việt từ thuở sơ khai. Chẳng thế mà dân gian Việt Nam có câu :
Bên ngoài xanh lá dong xanh.
Bên trong nếp mỡ, đỗ hành hạt tiêu.
Gói nghĩa tình ,gói yêu thương.
Dẻo thơm từ thuở Lang Liêu tới giờ.
Tìm hiểu thêm: